Bán Hạ vị thuốc hóa đàm (半夏)

Bán hạ bắc

Bán hạ dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong quyển sách “Bản kinh”. Là thân rễ phơi hay sấy khô của nhiều loại Bán hạ khác nhau thuộc họ Ráy (Araceae). Bán hạ bắc có tên thực vật học là Pinellia tuberifera Tenore hay Pinellia ternata (Thunb) Breiter.

Xem thêm:

Vị thuốc này ở Trung quốc mọc khắp nơi từ Bắc chí nam. Nhiều nhất dọc các tỉnh dọc lưu vực sông Trường giang như Hồ bắc, Tứ xuyên, Giang tô.

Cách bào chế bán hạ:

Bán hạ namDược liệu bán hạ nam

Bán hạ sống ngâm nước cho đến khi cắn chỉ có vị hơi tê cay thì bỏ vào chỏ nấu với gừng tươi và Bạch phàn. Đến khi nước trong lấy ra phơi chỗ râm (âm can) cho khô cắt lát gọi là Khương Bán hạ.

Cứ 1 kg Bán hạ thì cho thêm 50g phèn chua và 300g gừng tươi giã nhỏ. Thêm nước vào cho ngập, ngâm trong 24 giờ lấy ra rửa sạch, đồ cho chín rồi thái mỏng. Lại tẩm tiếp nước gừng (cứ 1kg Bán hạ thêm 150g gừng tươi giã nát thêm ít nước). Vắt lấy nước cho Bán hạ vào ngâm 1 đêm, lấy ra sao vàng rồi dùng. Nếu sinh Bán hạ sau khi ngâm như Khương Bán hạ. Thì cho vào nước sắc Cam thảo và Thạch Khôi trộn đều, ngâm cho đến khi không còn ruột trắng. Phơi khô chỗ râm (âm can) thì gọi là Pháp Bán hạ.

Tính vị qui kinh: Có vị cay ấm và có độc, qui kinh Tỳ Vị Phế.

Theo các sách thuốc cổ:

  • Sách Bản kinh: vị cay tính bình.
  • Sách Dược tính bản thảo: rất độc (hữu đại độc).
  • Sách Lôi công bào chế dược tính giải: Quy 3 kinh Phế Tỳ Vị.
  • Sách Bản thảo hội ngôn: nhập thái âm, thủ dương minh, thiếu âm kinh.

Thành phần chủ yếu: Coniine, homogentisic acid, protoanemonin. Nicotine, glutamic acid, aspartic acid, arginine, beta-sitosterol, cholesterol.

Cây Bán HạHình ảnh cây bán hạ

 

Tác dụng dược lý:

Vị thuốc có tác dụng: táo thấp hóa đàm, cầm nôn (chỉ ẩu), giáng nghịch, tiêu bỉ tán kết.

Chủ trị các chứng: thấp đàm, đàm trọc hung tý. Hàn đàm thượng xung gây động phong, hàn ẩm ẩu thổ. Vị hư ẩu thổ, vị nhiệt ẩu thổ. Nhâm thần ẩu thổ (nôn thai nghén), chứng kết hung, mai bạch khí (chứng đau đầu tức ngực, chứng như vướng ở họng lúc nuốt). Chứng anh lựu đàm hạch, ung thư thũng độc.

Ứng dụng lâm sàng:

  1. Trị nôn thai nghén: dùng Thanh hạ và bột Sơn dược mỗi thứ 30g. Dùng lửa nhỏ (văn hỏa), sắc Bán hạ khoảng 45 phút. Bỏ xác cho bột Sơn dược vào đun sôi 3 – 4 lần rồi cho đường đủ ngọt. Ngày uống 1 thang, sau đó tùy chứng gia thêm thuốc. Đã trị 18 ca đều khỏi (Trần Triệu, Trung y tạp chí Giang tô 1987).
  2. Trị viêm tuyến vú cấp: dùng Bán hạ tươi rửa sạch bỏ đi vỏ ngoài. Mỗi lần nhét vào lỗ mũi cùng bên hoặc khác bên vú đau trong 1 – 2 giờ, ngày làm 1 lần. Theo dõi 40 ca, kết quả đã khỏi 36 ca, tỷ lệ khỏi 90% (Ngô Thanh Thiện, Học báo của Học viện Trung y An huy 1984).
  3. Trị ho trong chứng cảm phong hàn: Nhị trần thang (Theo Hòa tễ cục phương). Dùng hạ chế, Phục linh, Trần bì đều 10g, Cam thảo 3g, sắc lấy nước uống.
  4. Trị chứng rối loạn tiêu hóa: sôi bụng, bụng đầy tức, nôn tiêu chảy. Bán hạ tả tâm thang (trong Thương hàn luận). Hạ chế 10g, Can khương 5g, Hoàng liên 3g, Hoàng cầm 10g, Đảng sâm 10g, Chích thảo 3g, Đại táo 3 quả sắc uống.

Bán hạ bắc

Liều thường dùng:

  1. Liều: 5 – 10 g sắc uống hoặc cho vào thuốc tán, hoàn. Dùng ngoài lượng vừa đủ, nhưng cũng có học giả lúc cần dùng đến lượng 60g. Thầy thuốc ôn bệnh Ngô Cúc Thông có câu: “Chất lượng giáng nghịch, nhị lượng an miên”.
  2. Tùy từng loại Bán hạ chế mà chọn dùng đối với bệnh thích hợp:
  • Thanh Bán hạ: bớt táo cay chuyên hóa thấp đàm. Nên nên sử dụng cho bệnh nhân cơ thể hư nhược đàm nhiều. Hay trẻ em thực tích đàm trệ, bệnh nhẹ.
  • Pháp Bán hạ: chuyên táo thấp hòa vị. Dùng tốt cho bệnh nhân tỳ hư có thấp trệ, tỳ vị bất hòa.
  • Trúc lịch Bán hạ: tính ôn táo giảm rất nhiều. Nên dùng tốt cho chứng nôn do vị nhiệt hoặc do phế nhiệt do đàm vàng dính. Hay chứng hóa thấp kiện tỳ, chỉ tả tiêu thực, nên dùng trị chứng tỳ vị hư nhược thấp trở thực trệ.

Vị thuốc này phản Ô đầu, nên không được dùng chung.

Cấp cứu trúng độc Bán hạ:

Ngoài việc theo các nguyên tắc cấp cứu nhiễm độc thuốc ra. Có thể dùng 1 – 2% tannic acid rửa bao tử, cho uống lòng trắng trứng gà, nước chè (trà) đậm hay giấm loãng. Cũng có thể dùng giấm loãng khoảng 30 – 60ml gia ít nước gừng uống hoặc ngậm nuốt từ từ. Cũng có thể dùng gừng tươi gia đường để sắc uống.

Liên Kiều

Bai viet lien quan