Đại táo bổ trung an thần (大枣)

Đại táo

Đại táo hay còn gọi là Táo tàu, Táo đen hoặc Táo đỏ (Fructus Zizyphi). Là quả chín phơi hay sấy khô của cây Táo tàu ( Zizyphú sativa Mill). Theo sách Trung dược học của Trung hoa xuất bản năm 1991. Thì cây Táo tàu này có tên khoa học là Ziziphus Jujuba Mill var inermis ( Bge.) Rehd. Vị thuốc này sớm đã ghi trong sách Bản kinh, dùng làm thuốc. Cho đến nay, ta vẫn phải nhập của Trung quốc.

Xem thêm:

Tính vị qui kinh: Vị ngọt, ôn, qui vào 2 kinh Tỳ Vị.

Thành phần chủ yếu: Vitamin A, vitamin C, vitamin B2, , phosphorous, calcium, iron.

Tác dụng dược lý của đại táo:

Táo đỏĐại táo dược liệu

Trong Đông Y, Đại táo có tác dụng bổ trung ích khí, dưỡng huyết an thần, hòa hoãn dược tính. Chủ trị chứng như trung khí bất túc. Các chứng huyết hư tạng táo, dùng chung với các vị thuốc có tính dược mãnh liệt để làm dịu bớt.

  • Trong sách Bản thảo kinh tập chú: “sát ô đầu độc” (giảm độc ô đầu)
  • Sách Danh y biệt lục viết: ” bổ trung ích khí cường lực, trừ phiền muộn.”.
  • Sách Nhật hoa tử bản thảo ghi: “nhuận tâm phế chỉ thấu”.
  • Sách Dược phẩm hóa nghĩa viết: ” dưỡng huyết bổ can”.

Y học hiện đại ngày nay nghiên cứu tác dụng của táo tàu đen:

Cây đại táoHình ảnh cây đại táo

  • Cho chuột nhắt uống nước sắc Đại táo, thể trọng tăng lên rõ. Qua thử nghiệm bơi cho thấy giúp làm tăng cơ lực. Gây độc gan thỏ bằng cacbon tetracholoride và cho uống nước sắc vị thuốc này. Protid toàn phần và albumin huyết thanh thỏ đều tăng rõ. Chứng minh rằng vị thuốc này có tác dụng bảo vệ gan, tăng lực cơ và thể trọng.
  • Thực nghiệm cũng chứng minh: Những bài thuốc dùng táo đều làm cho chỉ số cAMP trong bạch cầu tăng cao. Táo có tác dụng chống lại dị ứng.
  • Chiết xuất chất Táo với nước invitro có tác dụng ức chế tế bào JTC-26 sinh trưởng hiệu suất đạt trên 90%. Có liên quan đến liều lượng, nếu dùng lượng nhỏ không có kết quả.
  • Ngoài ra, táo còn có tác dụng an thần.

Ứng dụng lâm sàng:

Đại táo

Trị chứng tỳ hư nhược: sinh ra chứng người mệt mỏi, ăn kém, đi phân lỏng.

  • Cháo Đại táo: Đại táo 5 – 10 quả, nấu với gạo tẻ hoặc gạo nếp ăn mỗi ngày.
  • Cùng với Nhân sâm, Bạch linh, Bạch truật, làm thuốc thang sắc uống.
  • Sâm táo hoàn: Nhân sâm, Đại táo theo tỷ lệ 1:4 làm hoàn. Có thể gia thêm Can khương, Bạch truật, Kê nội kim để trị chứng Tỳ vị hàn thấp.
  • Chữa bệnh Tỳ vị hư hàn, thường phối hợp Can khương và Táo nhục đồng lượng. Gừng có táo bớt vị cay. Táo có Gừng sẽ bớt nê trệ.

Điều trị chứng huyết hư: Dùng Táo gia thêm Thục địa, Đương qui, A giao, Hoàng kỳ. Để bổ huyết.

Trị chứng tạng táo: dùng bài thuốc Cam mạch đại táo thang (Táo, Tiểu mạch, Cam thảo). Gia Sinh Long cốt, Táo nhân, Mẫu lệ, Bá tử nhân để dưỡng tâm an thần.

Chữa sau khi sốt khỏi: miệng khô, cổ đau hay ngủ. Dùng Đại táo 20 quả với Ô mai 10 quả. 2 thứ giã nát nhào mật ngậm trong nhiều ngày.

Trẻ con cam tẩu mã: 1 quả Đại táo, Hoàng bá 6g. Đều đốt than tán nhỏ xát vào răng.

Liều dùng:

  • Liều thường dùng: 3 – 12 quả hoặc 10 – 30 quả tùy bài thuốc.
  • Trường hợp thấp hoặc khí trệ thì không nên dùng nhiều. Dùng với Sinh khương sẽ tốt hơn. Trùng tích, thấp nhiệt, đàm thấp đều không nên dùng Táo.

Liên Kiều

Bai viet lien quan