Vị thuốc Hạnh nhân (苦杏仁)

Hạnh nhân trị táo bón

Hạnh nhân chính là hạt khô của quả cây Mơ. Trong đó có nhiều loại có tên thực vật học khác nhau, như cây Sơn hạnh Prunus Armeriaca L var ansu Maxim, Hạnh Đông bắc Prunus mandshurica (Maxim) Koenae, Hạnh Siberia Prunus sibinca L hoặc cây Hạnh Prunus armenicaca L đều thuộc họ Hoa Hồng (Rosaceae). Hạnh nhân còn có tên gọi khác là Ô mai, Hạnh, Bắc Hạnh nhân, Khổ Hạnh nhân, Quang Hạnh nhân. Dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Bản kinh.

Xem thêm:

Cách chế biến:

  • Mùa hè, hái quả chín về, bỏ hết vỏ và thịt của nhân. Lấy nhân phơi khô, lúc dùng thì đập vụn.
  • Khổ hạnh nhân là cho vị thuốc này vào nước sôi trong vài phút. Sau đó lấy ra ngâm nước lạnh, bỏ vỏ phơi khô.
  • Sao Hạnh nhân là bỏ Khổ Hạnh vào nồi, cho lửa nhỏ rồi sao cho vàng.
  • Hạnh nhân sương là dùng giấy thấm bọc, rồi ép cho lấy hết tinh dầu.

Hạnh nhân chữa khí suyễn

Tính vị qui kinh:

Có vị đắng hơi ôn, có độc ít. Qui vào 2 kinh Phế, Đại tràng.

Thành phần chủ yếu:

Nhân hạt mơ chứa: 35 đến 40% chất dầu (dầu Hạnh nhân). 3% men emunsin và amygdalin, gồm 2 men amygdalase và prunase.

Tác dụng dược lý:

Theo Y học cổ truyền:

Hạnh nhân có tác dụng nhuận tràng thông tiện, chỉ khái bình suyễn.

Chủ trị các chứng ho do phong nhiệt hoặc phong hàn, ho suyễn do phế nhiệt, táo bón do tràng táo.

Trích đoạn Y văn cổ:

  • Sách Bản kinh: chủ khái nghịch thượng khí, hạ khí, hầu tý, săn nhũ.
  • Sách Dược tính bản thảo: chủ khái nghịch thượng khí suyễn thúc, cùng Thiên môn đông sắc uống nhuận tâm phế hòa nước qua làm thang nhuận thanh khí.
  • Sách Trân châu thang: trừ phế nhiệt, trị phong nhiệt ở thượng tiêu, nhuận đại tràng khí bí, lợi hung cách khí nghịch.

Hạnh nhân giúp tuyên phế

Triệu chứng nhiễm độc khi dùng: chóng mặt, mệt lã, đau bụng, nôn, tiêu chảy. Nóng rát vùng thượng vị, thở nhanh, huyết áp tăng. Nghiêm trọng hơn thở nông chậm, cứng người, hôn mê, co giật, giãn đồng tử, huyết áp hạ. Suy hô hấp tuần hoàn và dẫn đến tử vong.

Trẻ em 10 – 20 nhân, người lớn ăn 40 – 60 nhân có thể gây nhiễm độc nghiêm trọng. Uống Anhydric acid, liều gây chết là 0,06g với người lớn.

Thuốc được nấu lên và có cho đường để giảm bớt độc tính. Trường hợp quá liều có thể cho uống sirô hay than hoạt. Trong dân gian dùng vỏ cây mơ hoặc vỏ của rễ cây làm chất giải độc.

Cây hạnh nhânCây hạnh nhân

Ứng dụng lâm sàng:

Trị viêm phế quản mạn tính: 100g Hạnh ngọt (Điềm hạnh nhân), nước gừng tươi 150g. Tang bì, Mộc thông, Bối mẫu đều 40g, Tử uyển, Ngũ vị tử đều 30g, sắc cô thêm mật ong thành cao. Mỗi lần uống 1 thìa canh, ngày 2 lần. Trị ho lâu ngày khàn giọng.

Trị táo bón: Dùng chung với Bá tử nhân, Hỏa ma nhân đều 10g, sắc nước uống. Trị táo bón người cao tuổi và phụ nữ sau sanh.

Liều dùng của hạnh nhân:

  • Liều: 3 – 10g, thuốc sắc nên cho vào sau.
  • Sao Hạnh nhân trị ho không dùng để trị táo bón.

Kiêng kỵ: Không dùng cho ho khi tạng phủ hư nhược. Phế có đờm nhiệt mà không có suyễn.

Liên Kiều

Bai viet lien quan