Vị thuốc Ngưu bàng tử (牛蒡子)

Ngưu bàng tử

Ngưu bàng tử là một loại thuốc quý. Ngưu bàng là một cây sống hằng năm hoặc 2 năm. Thân cao chừng từ 1-1,5m, phía trên phân thành nhiều cành. Lá to rông mọc hình hoa thị ở gốc và mọc so le ở trên thân. Cuống lá dài, mặt dưới lá có nhiều lông trắng. Hoa hình đầu, mọc ở đầu cành, cánh hoa có màu hơi tím. Quả bé màu xám nâu và hơi cong. Mùa hoa khoảng tháng 6 – 7, mùa quả tháng 7 – 8.

Xem thêm:

Tên thường gọi: Đại đao tử, Hắc phong tử, Thử niêm tử, á thực, Lệ Thực, Thử Niêm, Mã Diệc Danh, Ngưu Bảng, Đại Lực Tử, Bảng Ông Thái, Tiện Khiên Ngưu, Biên Bức Thứ. Cây thuộc họ cúc Asterraceae, có tên khoa học Arctium lappa Linn.

Hoa cây ngưu bàng tửCây ngưu bàng tử

Thành phần hóa học: Khi thủy phân hoạt chất acttin (arotiin) bằng axit nhẹ. Trong chất béo thành phần chủ yếu gồm các glierit của các axit panmitic, oleic và stearic. Trong rễ ngưu bàng có khoảng 57% inulin ( có khi tới 70% ), 5-6% glucoza, một ít chất béo (0,4%), chất đắng, chất nhầy, nhựa và muối kali (nitrat và cacbonat).

Tính vị quy kinh:

Ngưu bàng tử có vị cay đắng, tính hàn. Quy hai kinh phế và vị.

Tác dụng Ngưu Bàng Tử

Quả có tác dụng tán nhiệt, trừ phong, thông phổi làm mọc ban chẩn, giải độc, tiêu thũng, sát trùng.

Rễ có vị đắng, cay, tính hàn. Tác dụng lợi tiểu (loại được acid uric), làm ra mồ hôi, khử lọc, lợi mật, nhuận tràng, trị đái đường, chống giang mai, diệt trùng và chống nọc độc.

Có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tán phong nhiệt, tuyên phế thấu chẩn. Dùng chữa ngoaị cảm, biểu chứng, vị thấu ( không thấu), ma chẩn ( đậu sỏi ), phong chẩn yết hầu sưng đau, ung thũng. Những người tỳ vị hư hàn, tiêu chảy không dùng được. Nhân dân Châu Âu còn dùng lá non và thân, có khi dùng cả rễ đem giã nhỏ rồi đắp vào nơi âu, bọ, ong, rắn độc, smuỗi và rết cắn. Có lẽ do tác dụng của các men oxydaza có nhiều trong thân và lá.

Liều dùng:

  • Ngày dùng từ 4-12g cho thuốc sắc
  • Dùng ngoài liều không cố định

Kiêng kị: Không dùng ngưu bàng tử cho người bị tiêu chảy hoặc tâm tỳ hư.

Ứng dụng lâm sàng

Ngưu bàng tử

Chữa đậu chẩn mọc trong cổ họng: Ngưu bàng tử 8g, cam thảo 3g, cát cánh 6g sắc uống trong ngày.

Chữa Thủy thũng, cảm mạo, chân tay phù: Sao vàng Ngưu bàng tử 80g. Ngày uống 3 lần, lần dùng 8g bột này, dùng nước nóng chiêu thuốc.

Chữa trẻ con lên đậu mọc không thuận, nóng sốt cổ họng tắc: Ngưu bàng (sao) 5g, cam thảo 2g, kinh giới tuệ 1g. Cho 200ml nước, sắc còn 50ml rồi uống. Nếu đậu mọc rồi vẫn có thể uống được.

Tán nhiệt, giải biểu: Các chứng cảm mạo phong nhiệt, sợ lạnh. Miệng khát họng rát, toàn thân phát sốt, ho, khạc ra đờm vàng.

  1. Ngưu bàng tử 12g, thuyền thoái 6g, bạc hà 6g. Sắc uống ngày 1 thang.
  2. Ngưu bàng tử 24g, liên kiều 40g, kim ngân 40g, bạc hà 24g, cát cánh 24g, cam thảo 20g, đạm đậu xị 20g, hoa kinh giới 16g, lá tre 4g. Tất cả mang tán bột, lấy 24g hãm với nước sôi để uống. Ngày dùng 3 – 4 lần tùy theo bệnh nặng nhẹ.

Mát họng, giảm đau: Dùng khi phong nhiệt sinh ra chứng viêm yết hầu.

Ngưu bàng tử 16g, phòng phong 12g, bạc hà 4g, đại hoàng 12g, kinh giới tuệ 8g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày 1 thang.

Liên Kiều

Bai viet lien quan