Ngưu tất hoạt huyết hóa ứ

Ngưu tất hoạt huyết

Ngưu tất dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Bản kinh. Bộ phận dùng là rễ phơi hay sấy khô của nhiều loài Ngưu tất. Thông thường gặp là Hoài Ngưu tất (Achyranthes Bidentata Blume), Ma Ngưu tất (Cyathula capitata (Wall) Moq) và Xuyên Ngưu tất (C.officinalis Kuan).

Xem thêm:

Tính vị qui kinh:

Vị Đắng, chua, tính bình. Qui kinh Can Thận.

Tác dụng Ngưu tất:

A.Theo Y học cổ truyền:

Thuốc có tác dụng hoạt huyết khu ứ, lợi niệu thông lâm, bổ can thận dưỡng gân cốt. Dùng làm sứ dược dẫn huyết và hỏa xuống nữa thân dưới cơ thể. Chủ trị các chứng: đau kinh, tắt kinh, rối loạn kinh nguyệt, đau bụng sau sanh. Đau do chấn thương, huyết niệu, tiểu tiện đau buốt, lưng gối nhức mỏi, không thông. Các chứng thổ huyết, nục huyết, miệng lưỡi lở, đau lợi răng, đau đầu chóng mặt, đẻ khó.

B.Theo y học hiện đại:

Thuốc có công dụng thúc đẩy quá trình tổng hợp protein. Dịch chiết Cồn từ vị thuốc này có tác dụng ức chế tim ếch cô lập, làm giãm mạch giúp hạ áp. Thuốc còn có tác dụng lợi tiểu, giúp hạ đường huyết. Giúp cải thiện chức năng gan, hạ được cholesterol máu.

Ngưu tất

Ứng dụng ngưu tất trong lâm sàng:

1.Trị bệnh phụ khoa: như rối loạn kinh nguyệt, kinh bế, đau kinh. Đau bụng sau sanh do thuốc có tác dụng thông kinh, khu ư và chỉ thống.

Thường dùng phối hợp với Đương qui, Đào nhân, Hồng hoa.

  • Xuyên Ngưu tất 20g sắc nước uống với rượu trị kinh bế, không thông.
  • Thoát hoa tiễn: Hồng hoa, Xuyên khung mỗi thứ 6g, Đương qui 12g. Nhục quế (tán bột hòa uống) 3g, Xuyên Ngưu tất 16g, Xa tiền tử 12g. Nấu uống trị sinh khó, thai chết lưu không ra.
  • Ngưu tất tán: Ngưu tất, Đương qui, Đào nhân, Diên hồ sách, Xích thược, Đơn bì đều 12g. Quế tăm, Mộc hương đều 6g, tán bột mịn. Mỗi lần uống 12g, ngày 2 lần với rượu ấm. Dùng trị hết kinh đau bụng.

2.Trị các chứng gân cơ yếu: thường phối hợp với Thục địa, Tỏa dương, Qui bản, Hổ cốt. Bài thuốc thường dùng là:

  • Hổ tiên hoàn ( Y phương tập giải): Qui bản, Tri mẫu, Hoàng bá, Thục địa, Đương qui. Tỏa dương, Bạch thược, Hổ cốt, Trần bì, Ngưu.

3.Trị chứng tê thấp khớp đau: 

  • Tam diệu tán (hoàn) ( Y học chính truyền): Thương truật 12g, Hoàng bá 8g, Xuyên Ngưu12g. Tán bột mịn trộn đều mỗi lần uống 12g, ngày 2 lần với nước gừng.
  • Tứ diệu hoàn (Thanh phương tiện độc) gồm Ngưu tất gia Phòng kỷ, Mộc qua, Tỳ giải.

4.Trị chứng tiểu ra máu: Dùng Ngưu tất gia Cù mạch, Đương qui, Hoạt thạch. (Ngưu tất thang trong sách Bị cấp thiên kim yếu phương).

5.Phòng trị chứng Bạch hầu: Ngưu tất 7 phần, Cam thảo 3 phần, sắc uống thay nước trà mỗi ngày.

6.Trị tử cung xuất huyết cơ năng: dùng Xuyên Ngưu mỗi ngày 30 – 45g sắc uống. Dùng liên tục 2 – 4 ngày hết xuất huyết. Trong trường hợp xuất huyết lâu ngày, uống tiếp thêm 5 – 10 ngày cũng cố. ( Tạp chí Trung y Triết giang 1982).

Liều dùng và chú ý:

  • Liều dùng: 10 – 15g.
  • Dùng Hoài Ngưu: tác dụng hoạt huyết hóa ứ.
  • Dùng Xuyên Ngưu: tác dụng thông lâm lợi tiểu.
  • Phụ nữ có thai và kinh nguyệt kiêng dùng.

Lưu ý: Bài viết mang tính chuyên môn cao. Nếu không có kiến thức chuyên sâu trong Y học cổ truyền. Xin vui lòng xem với tính chất tham khảo.

Liên Kiều

Bai viet lien quan