Vị thuốc Thục Địa Hoàng (熟地黃)

Thục địa hoàng

Thục địa hoàng là do Sinh địa bào chế thành, được ghi đầu tiên trong sách “Bị ấp thiên kim yếu phương”. Tập 27 với tên Thục can địa hoàng. Thục địa là phần rễ của cây sinh địa hoàng (Rehmannia glutinóa Libosch), thuộc họ Hoa mõm chó (Scrophulariaceae).

Xem thêm:

Cây địa hoàng

Tính vị qui kinh: có vị ngọt hơi ôn, qui vào kinh Can thận.

Thành phần chủ yếu: B-sitosterol, mannitol, campesterol, stigmasterol, rehmannin, catalpol, arginine, glucose.

Tác dụng dược lý:

  • Trong Y học cổ truyền:

Dưỡng huyết tư âm, bổ ích tinh tủy. Chủ trị các chứng huyết hư, băng lậu, phụ nữ kinh nguyệt không đều.Can thận âm đều hư, tinh huyết hư, chứng tiêu khát.

  • Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

Nước sắc Đại hoàng có công dụng kháng viêm. Đối với chuột cống, thực nghiệm gây sưng tấy bằng Formalin vùng chân đùi, thuốc làm giảm sưng rõ rệt.

Thục Địa Hoàng giúp hạ đường huyết. Cũng có báo cáo nói Địa hoàng làm tăng cao đường huyết của chuột cống hoặc không ảnh hưởng đến đường huyết bình thường của loài thỏ.

Thuốc có tác dụng hạ áp, cầm máu, cường tim, bảo vệ gan, lợi tiểu, chống chất phóng xạ, chống nấm.

Thuốc có tác dụng ức chế miễn dịch kiểu cocticoit, nhưng không làm ức chế hoặc teo vỏ thượng thận. Thực nghiệm đã chứng minh Thục địa và Sinh địa đều có thể làm giảm tác dụng ức chế chức năng vỏ tuyến thượng thận của cocticoit.

Thục địa hoàng

Liều lượng thường dùng của thục địa hoàng:

Liều dùng: 10 – 30g, thuốc sắc, nấu cao, hoàn tán.

Chú ý:

  • Thục địa có tính nê trệ cùng dùng với Trần bì, Sa nhân để dễ tiêu hóa hấp thụ hơn.
  • Theo kinh nghiệm cổ truyền: Thục địa sao thành than dùng để cầm máu.
  • Thục địa ngâm rượu vừa có tác dụng bổ huyết và cả hoạt huyết.
  • Trường hợp tỳ vị hư hàn, ăn kém, tiêu chảy hay đầy bụng. Khi cần nên phối hợp thêm thuốc kiện tỳ hành khí.

Liên Kiều

Bai viet lien quan